"Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại"

TIN TIÊU ĐIỂM

Danh Bạ Điện thoại


Danh bạ

Học viện Chính trị tổ chức Khai...




Biện pháp Chuyển đổi số trong công tác Thông tin khoa học quân sự ở Học

Thứ năm, 10/09/2026 - 03:33 chiều GMT

Biện pháp Chuyển đổi số trong công tác Thông tin khoa học quân sự ở Học viện Chính trị hiện nay

 Đăng bởi Đinh Thau

Bài báo khoa học

Cập nhật: 09/09/2026

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư trong đó trọng tâm là công nghệ số đã tác động đến mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội, tạo ra sự biến đổi to lớn cả trong thực tiễn cuộc sống và trong tư duy. Công tác thông tin khoa học là một trong những chủ thể chịu sự tác động mạnh mẽ của Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư. Chính vì vậy, công tác thông tin khoa học cần phải có những định hướng chiến lược trong việc triển khai chuyển đổi số, hiện đại hoá mô hình hoạt động, khẳng định vị trí, vai trò không thể thiếu đối với việc đảm bảo nhu cầu tiếp cận thông tin, tri thức hỗ trợ con người học tập, nghiên cứu.

Chuyển đổi số trong công tác thông tin khoa học quân sự là quá trình ứng dụng đồng bộ công nghệ số, dữ liệu số và các nền tảng số vào toàn bộ hoạt động thu thập, xử lý, lưu trữ và phổ biến thông tin khoa học quân sự, đồng thời đổi mới phương thức quản lý, phương thức cung cấp dịch vụ và phương thức sử dụng thông tin nhằm nâng cao chất lượng phục vụ nghiên cứu khoa học, giáo dục, đào tạo, lãnh đạo, chỉ huy và quản lý trong Học viện.

Trong giai đoạn phát triển mới, thực hiện Quyết định số 206/QĐ-TTg ngày 11/02/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số ngành thông tin – thư viện đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”; Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW ngày 29/01/2025 của Quân uỷ Trung ương về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân đội; Kiến trúc chính phủ điện tử Học viện Chính trị phiên bản 3.0, hướng tới chính phủ số kèm theo Quyết định số 977/QĐ-HV ngày 01/4/2025 của Giám đốc Học viện. Đồng thời nhằm hiện thực hoá Chỉ thị số 94/CT-BQP của Bộ Trưởng Bộ Quốc phòng về nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin khoa học quân sự đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới cũng chỉ rõ “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thông tin khoa học quân sự; trong đó tập trung đầu tư xây dựng các thư viện khoa học theo hướng số hoá, tự động hoá, mở rộng dự án Thư viện số dùng chung trong Bộ Quốc phòng cho các nhà trường, viện nghiên cứu. Nâng cao chất lượng, hiệu quả mạng Misten”.

Học viện Chính trị là một trung tâm giáo dục, đào tạo lớn của quân đội và quốc gia, có nhiệm vụ đào tạo chính uỷ, giảng viên Khoa học xã hội và nhân văn cấp trung, lữ đoàn, sư đoàn và cán bộ nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn quân sự. Đối tượng đào tạo đa dạng, với trình độ đào tạo ở các bậc khác nhau. Nhu cầu sử dụng thông tin khoa học để giảng dạy, học tập và nghiên cứu, rất phong phú, cả bề rộng và chiều sâu. Do đó đặt ra cho công tác thông tin khoa học quân sự ở Học viện phải nhanh chóng tìm ra những bước đột phá để đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học ở Học viện. Một trong những bước đột phá đó là thực hiện chuyển đổi số trong công tác thông tin khoa học quân sự.

Trong những năm qua, được sự quan tâm của cơ quan nghiệp vụ cấp trên Cục KHQS/BQP và Thư viện Quân đội/TCCT, Học viện được đầu tư nâng cấp trang thiết bị, công nghệ thông tin để ứng dụng vào trong công tác thông tin khoa học quân sự, được trang bị đáng kể máy vi tính, xây dựng được các phòng đọc điện tử, phần mềm quản lý hoạt động thư viện, hệ thống máy chủ, máy quét tài liệu,…tuy nhiên, so với hệ thống các cơ quan thông tin trong và ngoài quân đội, quá trình chuyển đổi số công tác thông tin khoa học quân sự của Học viện còn rất khiêm tốn và nhiều bất cập cả về nhận thức, trách nhiệm của chủ thể, đối tượng và nội dung, hình thức, biện pháp tiến hành. Bên cạnh đó chức năng, nhiệm vụ của Học viện, đòi hỏi cần phải xây dựng công tác thông tin khoa học quân sự ngang tầm với các Trung tâm thông tin trong và ngoài quân đội. Muốn vậy, phải quan tâm hơn nữa đến việc chuyển đổi số trong công tác thông tin khoa học quân sự đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Do vậy, cần thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp, trong đó tập trung vào một số biện pháp cơ bản sau:

Một là, tạo sự chuyển biến về nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng về chuyển đổi số trong công tác thông tin khoa học quân sự ở Học viện Chính trị  hiện nay

Đây là giải pháp giữ một vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, định hướng, mở đường và dẫn dắt xuyên suốt toàn bộ quá trình chuyển đổi số, vì xét theo mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức và hành động, nhận thức bao giờ cũng là khâu đi trước, giữ vai trò trực tiếp chỉ đạo, định hướng cho hành động thực tiễn được đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Tư tưởng đúng thì hành động mới khỏi sai lạc và mới làm tròn nhiệm vụ cách mạng được” [6, tr.360]. Cấp ủy đảng, người chỉ huy các cấp cần quán triệt sâu sắc quan điểm được Đại hội XIV của Đảng xác định: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực tăng trưởng mới, là nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, phục vụ người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội” [5]. Cùng với đó, cần quán triệt Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 20/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, được xác định là văn kiện đặc biệt quan trọng, định hình tư duy bứt phá về công nghệ cho toàn bộ hệ thống chính trị trong giai đoạn mới và Quyết định số 206/QĐ-TTg ngày 11/02/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số ngành thông tin – thư viện đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, có ý nghĩa chuẩn hóa hành lang pháp lý và quy trình kỹ thuật cho lĩnh vực thông tin – thư viện nói chung, trong đó có công tác thông tin khoa học, theo xu thế chuyển đổi số chung của quốc gia. Tiếp đó, về nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, cần tập trung quán triệt Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW ngày 29/01/2025 của Quân ủy Trung ương về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân. Đặc biệt, toàn Học viện phải quán triệt sâu sắc Chỉ thị số 94/CT-BQP của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin khoa học quân sự đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới đây là văn bản có tính chất chuyên ngành, xác định trực tiếp mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ của công tác thông tin khoa học quân sự trong bối cảnh chuyển đổi số. Cấp ủy, chỉ huy các cấp thường xuyên quán triệt cho các tổ chức, các lực lượng nắm vững vai trò, tầm quan trọng, những thuận lợi, khó khăn và yêu cầu mới của chuyển đổi số trong công tác thông tin khoa học quân sự ở Học viện, theo đó phải giáo dục, quán triệt làm cho các tổ chức, các lực lượng nắm vững bốn nội dung cốt lõi: Vai trò, tầm quan trọng; những thuận lợi; những khó khăn và yêu cầu mới đặt ra đối với chuyển đổi số trong công tác thông tin khoa học quân sự, đồng thời vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức giáo dục để nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể, lực lượng nhằm đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác thông tin khoa học quân sự tại Học viện.

Hai là, tổ chức đẩy mạnh chuyển đổi số vào quy trình nghiệp vụ thông tin khoa học quân sự ở Học viện Chính trị hiện nay

Đây là giải pháp giữ vị trí đặc biệt quan trọng, là mắt xích trung tâm vì giải pháp này không chỉ có ý nghĩa hiện thực hóa chuyển đổi số vào thực tiễn công tác chuyên môn mà còn giữ vai trò định hình phương thức, lộ trình, cách thức tổ chức thực hiện phù hợp, khoa học, bao gồm: Thứ nhất, tổ chức chuyển đổi số trong hoạt động khai thác, thu thập thông tin khoa học quân sự, trên cơ sở hạ tầng hiện có, Học viện có thể ứng dụng công nghệ số, trong đó nòng cốt là trí tuệ nhân tạo (AI), để tiến hành thu thập thông tin từ các nguồn tin và dữ liệu khoa học trên không gian số, đặc biệt là các trang thông tin điện tử, cổng thông tin điện tử, tạp chí, báo điện tử, hệ thống cơ sở dữ liệu đề tài khoa học, bài báo khoa học cùng các định dạng dữ liệu số đa dạng như giáo trình, tài liệu, video, hình ảnh. Bên cạnh đó, các công cụ AI cần được thiết kế để tận dụng đường truyền Internet sẵn có, tự động theo dõi, cập nhật và thiết lập liên kết chỉ mục đến các kho dữ liệu mở lớn, có uy tín như Thư viện Luận văn – Luận án của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Cơ sở dữ liệu quốc gia về khoa học và công nghệ của Bộ Khoa học và Công nghệ, cũng như hệ thống thư viện điện tử của các trường đại học lớn ngoài quân đội. Thứ hai, tổ chức đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động xử lý thông tin khoa học quân sự, mỗi tài liệu sau khi xử lý không chỉ đơn thuần được lưu trữ mà phải được chuẩn hóa theo một bộ tiêu chuẩn dữ liệu chung (thống nhất về trường thông tin, từ khóa, định danh, siêu dữ liệu – metadata), Học viện cần khuyến khích cán bộ, nhân viên nghiên cứu, ứng dụng các phần mềm mã nguồn mở miễn phí như Greenstone, DSpace để xây dựng các bộ sưu tập số theo chủ đề. Xây dựng quy trình xử lý tin đa phương tiện theo hướng số hóa toàn trình cần tăng cường ứng dụng các phần mềm chỉnh sửa, biên tập chuyên nghiệp, đề xuất trang bị bản quyền theo số lượng tài khoản giới hạn cho các ứng dụng thiết yếu như bộ văn phòng nâng cao, kết hợp bộ công cụ chuyên dụng của Adobe (Photoshop phục vụ xử lý hình ảnh, Premiere Pro phục vụ dựng video, biên tập âm thanh) nhằm chuyển hóa các thông tin khoa học quân sự dạng văn bản thành sản phẩm thông tin đa phương tiện trực quan, sinh động. Đầu tư đồng bộ hạ tầng và ứng dụng AI trong xử lý thông tin chuyên sâu tích hợp các mô-đun trí tuệ nhân tạo có khả năng tự động phân loại tài liệu theo chuyên ngành khoa học xã hội nhân văn quân sự, tự động tóm tắt nội dung, gợi ý từ khóa chuẩn hóa theo bộ từ điển thuật ngữ chuyên ngành thống nhất. Thứ ba, tổ chức chuyển đổi số đối với khâu bảo quản tin khoa học quân sự, đồng bộ dữ liệu đang phân tán rời rạc chuyển sang xây dựng một kho dữ liệu số dùng chung, vận hành trên nền tảng điện toán đám mây, đồng thời thay vì chỉ sao lưu tự động trên cùng một hệ thống mạng LAN như hiện nay, cần xây dựng cơ chế sao lưu đa lớp, đa điểm – kết hợp lưu trữ tại chỗ, lưu trữ trên nền tảng điện toán đám mây (Cloud computing) và lưu trữ dự phòng tại một địa điểm vật lý tách biệt. Thứ tư, chuyển đổi số đối với hoạt động phổ biến tin thông tin khoa học quân sự, đối với các hình thức phổ biến trực tiếp như Hội nghị thông tin khoa học quân sự hằng tháng, các buổi trưng bày phục vụ hội thảo, hội nghị, chuyển đổi số không dừng lại ở việc nâng cấp máy chiếu, âm thanh, ánh sáng mà cần được thiết kế lại theo hướng số hóa gốc; có thể tổ chức các Hội nghị theo hình thức kết hợp trực tiếp – trực tuyến để lan tỏa đồng thời tới các cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên trong Học viện; xây dựng không gian trưng bày, triển lãm số hoặc mô phỏng ba chiều có thể truy cập mọi lúc, không giới hạn trong khuôn khổ một sự kiện; đồng thời chuyển hóa nội dung thông tin khoa học quân sự thành các định dạng đa phương tiện như video ngắn, đồ họa thông tin động, dễ lan tỏa trên nhiều kênh số khác nhau, giúp tri thức khoa học quân sự vốn khô khan trở nên sinh động, dễ tiếp thu.

Ba là, bồi dưỡng nguồn nhân lực, nâng cao trình độ chuyển đổi số trong công tác thông tin khoa học quân sự ở Học viện Chính trị hiện nay

Đây là giải pháp có vị trí, ý nghĩa hết sức quan trọng, giữ vai trò nền tảng, xuyên suốt, chi phối trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả của toàn bộ quá trình chuyển đổi số vì công nghệ hiện đại đến đâu thì con người vẫn luôn là nhân tố trung tâm, vừa là chủ thể xây dựng, vừa là lực lượng trực tiếp vận hành, khai thác, sử dụng các hệ thống, nền tảng số. Phòng Khoa học quân sự là cơ quan chức năng về công tác thông tin khoa học quân sự chủ động tham mưu với Ban Chỉ đạo Chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo của Học viện phối hợp với các lực lượng chuyên trách làm công tác chuyển đổi số và các cơ quan chức năng xây dựng chương trình, kế hoạch bồi dưỡng năng lực số, đồng thời giới thiệu, hướng dẫn khai thác hệ thống mạng máy tính quân sự, các hệ thống phần mềm thông tin khoa học quân sự như phần mềm thư viện số Ilib8.0 của Học viện, hệ thống các trang thông tin điện tử trên mạng truyền số liệu quân sự và mạng Internet; giới thiệu quy trình khai thác thông tin khoa học quân sự, sử dụng thư viện số trên không gian mạng. Có thể biên soạn tài liệu hướng dẫn, sổ tay nghiệp vụ sử dụng mã QR code để cán bộ, nhân viên, giảng viên, học viên tự nghiên cứu, đối chiếu bằng thiết bị thông minh khi thực hiện nhiệm vụ.

Đối với đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên trách làm công tác thông tin khoa học quân sự, phải tiến hành bồi dưỡng nâng cao kỹ năng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ trong các quy trình nghiệp vụ thông tin khoa học quân sự, tập trung vào những mặt còn hạn chế, gắn liền với chuyển đổi số như kỹ năng làm việc với trí tuệ nhân tạo (AI), phân tích, thu thập, xử lý thông tin; có khả năng làm chủ, sử dụng thành thạo, quản trị hệ thống các phần mềm, các công cụ trong cả bốn quy trình nghiệp vụ. Ngoài ra, cần bồi dưỡng kỹ năng thu thập thông tin bằng ngoại ngữ; nâng cao năng lực tiếp thu kiến thức, tri thức khoa học quân sự trên không gian mạng trong giai đoạn chuyển đổi số và các kỹ năng về chia sẻ, biên tập, phát hành thông tin trên mạng quân sự, mạng Internet; đặc biệt coi trọng kỹ năng bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng trong suốt quá trình thu thập, xử lý, lưu trữ, chia sẻ thông tin. Hình thức bồi dưỡng cần đa dạng hóa, kết hợp mời chuyên gia trong và ngoài Học viện trực tiếp hướng dẫn thực hành với việc cử cán bộ tham gia các lớp tập huấn do Bộ Quốc phòng hoặc các cơ sở đào tạo uy tín tổ chức; đồng thời khuyến khích cán bộ, nhân viên tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ. Trong công tác tạo nguồn cán bộ, nhân viên chuyên môn nghiệp vụ, cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy Phòng Khoa học quân sự cần tích cực phát hiện nhân sự có năng lực, tâm huyết từ các nguồn, chủ động đề đạt, bổ sung kịp thời; có kế hoạch quy hoạch, tạo điều kiện để cán bộ, nhân viên được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn về công nghệ thông tin, khoa học thông tin – thư viện, kể cả đào tạo sau đại học đối với cán bộ có triển vọng phát triển lâu dài. Sau đào tạo, cần tập trung bồi dưỡng thực tiễn, giúp cán bộ, nhân viên mới nhanh chóng thích ứng với công việc, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác thông tin khoa học quân sự tại Học viện hiện nay. Kết quả bồi dưỡng năng lực số cần được gắn với công tác thi đua, khen thưởng, đánh giá, phân loại cán bộ, nhân viên hằng năm, coi đây là một trong những tiêu chí quan trọng để xem xét, đề bạt, bổ nhiệm; đồng thời cần thường xuyên rà soát, cập nhật nội dung, chương trình bồi dưỡng cho phù hợp với thực tiễn công tác thông tin khoa học quân sự hiện nay.

Bốn là, bảo đảm và quản lý chặt chẽ trang bị, sử dụng, khai thác cơ sở vật chất, thiết bị hiện đại và xây dựng thư viện thông minh trong Học viện

Đây là giải pháp giữ vai trò là khâu đột phá vì cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại chính là nền tảng vật chất – kỹ thuật, là điều kiện tiên quyết quyết định chuyển đổi số có thể diễn ra hay không và diễn ra ở mức độ nào. Cấp ủy, chỉ huy các cơ quan đơn vị phải thực hiện tốt các biện pháp quản lý chặt chẽ hạ tầng số phục vụ cho công tác thông tin khoa học quân sự tại Học viện, việc quản lý này đòi hỏi phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, có kế hoạch cụ thể, phân công trách nhiệm rõ ràng cho từng bộ phận, từng cá nhân phụ trách, tránh tình trạng buông lỏng, chồng chéo hoặc bỏ sót trong quá trình vận hành, bảo trì, bảo dưỡng hệ thống. Đồng thời, cần thường xuyên kiểm tra, đánh giá tình trạng hoạt động của trang thiết bị, kịp thời phát hiện và khắc phục những hư hỏng, trục trặc kỹ thuật, bảo đảm hệ thống hạ tầng số luôn trong trạng thái sẵn sàng phục vụ nhiệm vụ nghiên cứu, giảng dạy và học tập của cán bộ, giảng viên, học viên trong toàn Học viện. Thực hiện tốt các biện pháp tăng cường đầu tư, hiện đại hóa hạ tầng số phục vụ chuyển đổi số công tác thông tin khoa học quân sự. Các điều kiện bảo đảm về hạ tầng kỹ thuật, nhất là hạ tầng mạng LAN, hệ thống tra cứu, thu thập, phổ biến thông tin như máy tính để bàn, máy tính xách tay chính là nền tảng phần cứng, là điều kiện tiên quyết đối với mọi hoạt động chuyển đổi số trong công tác thông tin khoa học ở Học viện. Cần tập trung tăng cường nâng cấp, mở rộng và hoàn thiện hệ thống mạng LAN của Học viện theo hướng bảo đảm kết nối rộng khắp đến tất cả các cơ quan, đơn vị, với băng thông đủ rộng để đáp ứng nhu cầu truyền tải dữ liệu ngày càng lớn trong hoạt động thông tin khoa học quân sự đặc biệt chú trọng khối các khoa giáo viên, các Hệ quản lý học viên, bởi đây là lực lượng có nhu cầu tra cứu, khai thác tài liệu, thông tin khoa học phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu thường xuyên, liên tục. Một hướng đầu tư quan trọng khác là tận dụng tối đa các nguồn lực trong và ngoài Học viện, chủ động phối hợp với các cơ quan, đơn vị chức năng để tham mưu cho Thủ trưởng, Ban Giám đốc Học viện tổ chức nâng cấp, thiết kế và xây dựng Website nội bộ cùng Website trên mạng Internet, phát triển thành hai Cổng thông tin điện tử tương ứng, có hiệu năng cao, tính năng hiện đại. Đặc biệt, cần nghiên cứu kết hợp ứng dụng chatbot trí tuệ nhân tạo (AI) vào các cổng thông tin điện tử này nhằm nâng cao khả năng truyền tải nội dung một cách đa dạng, phong phú, hỗ trợ chức năng hỏi đáp, gợi ý các vấn đề khoa học tại Học viện một cách nhanh chóng, chính xác. Hệ thống Cổng thông tin điện tử hiện đại còn có ý nghĩa quan trọng trong việc phổ biến kịp thời các công văn, hướng dẫn của Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện và cơ quan chức năng đến các cơ quan, đơn vị, đồng thời là kênh đăng tải các bài báo khoa học, các thông tin về hoạt động khoa học của Học viện cũng như của các cơ quan, đơn vị trong toàn Học viện, góp phần lan tỏa, kết nối tri thức khoa học một cách rộng rãi, hiệu quả.

Tài liệu tham khảo:

1.     Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Hà Nội, 2024.

2.     Bộ Quốc phòng, Chỉ thị số 94/CT-BQP về nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác Thông tin KHQS đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, ngày 27 tháng 12 năm 2013.

3.     Nguyễn Thanh Bình (2026), “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số vào quy trình nghiệp vụ thông tin khoa học quân sự ở Học viện Chính trị”, Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự (Số 03). Trang 125-128.

4.     Đảng bộ Học viện Chính trị, Nghị quyết về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Học viện Chính trị, Nghị quyết số 412-NQ/ĐU ngày 12/5/2026.

5.     Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.

6.     Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội.

7.     Học viện Chính trị, Quy chế 2999/QC-HV ngày 25/10/2025 về quy chế công tác Khoa học quân sự, Học viện Chính trị, Hà Nội, 2025.

Tác giả: Trung tá CN, Ths Lê Quý Hiệp Hòa
Nguồn: Phòng KHQS/ HVCT