Bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng (ATTT, ANM) là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, trực tiếp góp phần bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, hệ thống thông tin và dữ liệu điện tử; đồng thời giữ vững sự ổn định chính trị, tư tưởng, tổ chức và nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị. Trong bối cảnh chuyển đổi số, công nghệ thông tin ngày càng được ứng dụng sâu rộng vào hoạt động lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học, các nguy cơ mất ATTT, ANM như lộ, lọt thông tin, tấn công, xâm nhập, cài cắm mã độc, đánh cắp dữ liệu ngày càng phức tạp, khó lường. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu phải không ngừng nâng cao chất lượng lãnh đạo bảo đảm ATTT, ANM của các tổ chức cơ sở đảng thuộc Đảng bộ Học viện Chính trị.
ATTT, ANM bao gồm an toàn thông tin mạng và an ninh mạng. Trong đó: An toàn thông tin mạng là sự bảo vệ thông tin, hệ thống thông tin trên mạng tránh bị truy nhập, sử dụng, tiết lộ, gián đoạn, sửa đổi hoặc phá hoại trái phép nhằm bảo đảm tính nguyên vẹn, tính bảo mật và tính khả dụng của các thông tin. An ninh mạng là sự bảo đảm hoạt động trên không gian mạng không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân [1].
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc” [2]. Từ cách tiếp cận đó, gắn với đặc thù hoạt động lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng, có thể quan niệm: Chất lượng lãnh đạo bảo đảm ATTT, ANM của tổ chức cơ sở đảng thuộc Đảng bộ Học viện Chính trị là tổng hòa giá trị của các khâu, các bước trong quá trình lãnh đạo nhiệm vụ bảo đảm ATTT, ANM ở cơ quan, đơn vị; phản ánh năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của đảng ủy, chi ủy, chi bộ cơ sở và phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên; được biểu hiện tập trung ở tính đúng đắn, chủ động, sáng tạo của các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, sự thống nhất về nhận thức, ý chí, hành động và kết quả hoàn thành nhiệm vụ bảo đảm ATTT, ANM của cơ quan, đơn vị.
Quan niệm trên cho thấy, chất lượng lãnh đạo bảo đảm ATTT, ANM của tổ chức cơ sở đảng được cấu thành và biểu hiện trên một số phương diện chủ yếu. Trước hết, đó là năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của đảng ủy, chi ủy, chi bộ cơ sở và phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đây là cơ sở trực tiếp chi phối chất lượng nghiên cứu, quán triệt và cụ thể hóa các chủ trương, quan điểm, nghị quyết, chỉ thị, thông tư, quy chế, quy định, hướng dẫn của cấp trên về bảo đảm ATTT, ANM phù hợp với đặc điểm, tình hình của cơ quan, đơn vị. Tiếp đó, chất lượng lãnh đạo được thể hiện ở việc chủ động, sáng tạo, xác định đúng chủ trương, biện pháp; vận dụng linh hoạt phương thức lãnh đạo; tổ chức thực hiện chặt chẽ, đồng bộ. Đồng thời, chất lượng lãnh đạo còn được phản ánh qua sự thống nhất về nhận thức, ý chí và hành động của cán bộ, đảng viên, quần chúng. Kết quả hoàn thành nhiệm vụ bảo đảm ATTT, ANM của cơ quan, đơn vị là biểu hiện trực tiếp, đồng thời là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng.
Những năm qua, các tổ chức cơ sở đảng thuộc Đảng bộ Học viện Chính trị đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm vụ bảo đảm ATTT, ANM và đạt được những kết quả tích cực. Nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng tham gia lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện nhiệm vụ từng bước được nâng lên; các chủ trương, biện pháp lãnh đạo cơ bản bám sát đặc điểm, tình hình của cơ quan, đơn vị. Nội dung lãnh đạo được xác định tương đối đầy đủ, toàn diện; phương thức lãnh đạo có sự vận dụng linh hoạt, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ; việc tổ chức thực hiện được duy trì nghiêm túc, chặt chẽ. Công tác quản lý dữ liệu điện tử quân sự, máy tính, mạng máy tính quân sự, mạng máy tính kết nối internet, tài khoản, thiết bị công nghệ thông tin, lưu trữ và truyền nhận thông tin từng bước đi vào nền nếp. Khả năng phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn nguy cơ mất ATTT, ANM được nâng lên, góp phần bảo vệ hệ thống thông tin và hoạt động trên không gian mạng phục vụ nhiệm vụ giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, chỉ huy, quản lý. Bên cạnh những kết quả đạt được, chất lượng lãnh đạo bảo đảm ATTT, ANM của một số tổ chức cơ sở đảng vẫn còn những hạn chế nhất định. Mặc dù chưa phải là phổ biến, nhưng những hạn chế này cần tiếp tục được nhận diện, đánh giá khách quan, nghiêm túc để có biện pháp khắc phục phù hợp, làm cơ sở xác định các yêu cầu nâng cao chất lượng lãnh đạo trong thời gian tới.
Trong thời gian tới, để nâng cao chất lượng lãnh đạo bảo đảm ATTT, ANM của các tổ chức cơ sở đảng thuộc Đảng bộ Học viện Chính trị, cần thực hiện tốt một số yêu cầu chủ yếu sau:
Một là, phải bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng đối với nhiệm vụ bảo đảm ATTT, ANM.
Đây là yêu cầu có tính nguyên tắc. V.I.Lê-nin khẳng định: “Đảng phải là đội tiên phong, là người lãnh đạo quảng đại quần chúng giai cấp công nhân; toàn thể (hay hầu như toàn thể) giai cấp này hành động “dưới sự kiểm soát và lãnh đạo” của các tổ chức đảng” [3]. Bảo đảm ATTT, ANM không đơn thuần là hoạt động kỹ thuật mà là nhiệm vụ chính trị, quân sự, nghiệp vụ quan trọng, liên quan trực tiếp đến bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, bảo vệ Đảng, Quân đội, Học viện và cơ quan, đơn vị. Vì vậy, nhiệm vụ này phải được đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng, gắn với sự quản lý, điều hành của người chỉ huy và sự tham mưu, hướng dẫn của cơ quan chức năng, lực lượng chuyên trách. Các tổ chức cơ sở đảng cần đưa nhiệm vụ bảo đảm ATTT, ANM vào nghị quyết lãnh đạo, kế hoạch công tác, kế hoạch kiểm tra, giám sát và nội dung sinh hoạt đảng; đồng thời lãnh đạo toàn diện các mặt giáo dục nhận thức, xây dựng và thực hiện quy chế, quy định, tổ chức lực lượng, bảo đảm hạ tầng kỹ thuật, quản lý thiết bị, dữ liệu, việc sử dụng internet và mạng xã hội, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm. Sự lãnh đạo phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, có trọng tâm, trọng điểm trong từng giai đoạn, lấy chủ động phòng ngừa là chính, khắc phục biểu hiện chủ quan hoặc chỉ tập trung lãnh đạo khi sự cố đã xảy ra.
Hai là, phải thực hiện tốt ba nội dung “đánh giá đúng, lãnh đạo đúng, tổ chức thực hiện đúng” phù hợp với đặc điểm, tình hình, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị.
Đây là yêu cầu quan trọng, bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng đúng trọng tâm, trọng điểm và phù hợp với đặc điểm, tình hình, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Phải nhận rõ tình hình và nhiệm vụ một cách toàn diện, một cách thiết thực, chớ nhận thức một cách lệch lạc, chủ quan, cục bộ” [4]. Đánh giá đúng là tiền đề để lãnh đạo đúng. Cấp ủy, chi bộ cơ sở phải đánh giá đúng nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, quần chúng; việc chấp hành các quy định về bảo đảm ATTT, ANM; tình trạng trang thiết bị, dữ liệu, phần mềm, mạng máy tính, thiết bị cá nhân; quy trình quản lý, lưu trữ, truyền nhận thông tin và sử dụng internet; đồng thời nhận diện rõ nguy cơ, khâu yếu, mặt yếu trong lãnh đạo và tổ chức thực hiện. Lãnh đạo đúng là xác định đúng mục tiêu, yêu cầu, nội dung, phương thức, biện pháp, lực lượng và trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ bảo đảm ATTT, ANM. Tổ chức thực hiện đúng là cụ thể hóa chủ trương, biện pháp lãnh đạo thành hành động trong thực tiễn, bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm và rõ kết quả. Ba nội dung này phải được thực hiện thống nhất, thường xuyên, gắn chặt với đặc điểm, tình hình, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, tránh máy móc, hình thức, dàn trải.
Ba là, phải gắn trách nhiệm của người đứng đầu với kết quả bảo đảm ATTT, ANM.
Kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị số 57-CT/TW ngày 31/12/2025 của Ban Bí thư và Kế hoạch số 04-KH/BCĐTW ngày 05/01/2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu trong hệ thống chính trị thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng yêu cầu phải: “gắn trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chỉ huy về kết quả bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin và an ninh dữ liệu trong phạm vi của cơ quan, đơn vị quản lý” [5]. Thực tiễn cho thấy, khi người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị có nhận thức đúng, trách nhiệm cao, sâu sát, quyết liệt, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở cấp dưới thì công tác bảo đảm ATTT, ANM sẽ có chuyển biến rõ rệt. Ngược lại, nếu người đứng đầu xem nhẹ nhiệm vụ, thiếu kiểm tra, đôn đốc hoặc thiếu gương mẫu sẽ dễ dẫn đến tâm lý chủ quan, chấp hành không nghiêm quy định và làm gia tăng nguy cơ xảy ra mất ATTT, ANM trong cơ quan, đơn vị. Do đó, cần gắn kết quả bảo đảm ATTT, ANM với trách nhiệm lãnh đạo, quản lý của bí thư cấp ủy, người chỉ huy và cán bộ chủ trì các cấp; đồng thời đưa nội dung này vào tiêu chí đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên, cán bộ, bình xét thi đua, khen thưởng và đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu sẽ góp phần làm cho công tác lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng thực chất, cụ thể và hiệu quả hơn.
Bốn là, phải huy động các nguồn lực, phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng có liên quan.
Bảo đảm ATTT, ANM là nhiệm vụ tổng hợp, liên quan đến nhiều tổ chức, lực lượng và nhiều điều kiện bảo đảm. Vì vậy, tổ chức cơ sở đảng phải lãnh đạo huy động, phối hợp và phát huy tốt vai trò của người chỉ huy, lực lượng chuyên trách công nghệ thông tin, lực lượng kiêm nhiệm công nghệ thông tin, cán bộ, nhân viên văn thư, lưu trữ, quản lý thiết bị, tổ chức quần chúng, hội đồng quân nhân và từng cán bộ, đảng viên, quần chúng. Mỗi tổ chức, lực lượng có chức năng, nhiệm vụ và khả năng khác nhau nhưng cần được phối hợp chặt chẽ, thống nhất dưới sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng. Cùng với nguồn lực con người, cần quan tâm bảo đảm cơ sở vật chất, trang bị kỹ thuật, phần mềm, hệ thống mạng, giải pháp bảo mật, sao lưu, dự phòng, giám sát và ứng cứu sự cố. Việc huy động, sử dụng nguồn lực phải phù hợp với điều kiện của cơ quan, đơn vị, đồng thời tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, giúp đỡ của cấp trên và cơ quan chuyên trách. Qua đó tạo sức mạnh tổng hợp, nâng cao chất lượng lãnh đạo và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ bảo đảm ATTT, ANM.
Năm là, phải xây dựng môi trường văn hóa số an toàn trong cơ quan, đơn vị.
Môi trường văn hóa số an toàn là môi trường trong đó cán bộ, đảng viên, quần chúng có nhận thức đúng, hành vi chuẩn mực, kỹ năng số cần thiết và ý thức tự giác trong sử dụng thông tin, hệ thống thông tin, dữ liệu điện tử, thiết bị số, internet và mạng xã hội. Đây là yêu cầu có ý nghĩa lâu dài trong điều kiện chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ thông tin ngày càng sâu rộng ở các cơ quan, đơn vị. Xây dựng môi trường văn hóa số an toàn không chỉ dừng ở việc ban hành quy chế, quy định, kế hoạch, hướng dẫn mà phải từng bước hình thành thói quen sử dụng công nghệ, thiết bị số đúng quy định, văn minh, an toàn và có kỷ luật. Mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng cần biết tự bảo vệ thông tin, tài khoản, mật khẩu, thiết bị; nhận diện nguy cơ mất an toàn trên không gian mạng; không đăng tải, chia sẻ, phát tán thông tin sai quy định; không xử lý tài liệu quân sự trên thiết bị, môi trường không được phép; tích cực đấu tranh, phản bác thông tin xấu, độc,… Khi văn hóa số an toàn được hình thành và củng cố, công tác bảo đảm ATTT, ANM sẽ từng bước chuyển từ bị động sang chủ động, từ yêu cầu bắt buộc sang ý thức tự giác trong thực hiện.
Nâng cao chất lượng lãnh đạo bảo đảm ATTT, ANM của tổ chức cơ sở đảng thuộc Đảng bộ Học viện Chính trị là yêu cầu khách quan, cấp thiết trong điều kiện chuyển đổi số hiện nay. Các yêu cầu về bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp; thực hiện đúng các khâu đánh giá, lãnh đạo và tổ chức thực hiện; gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả bảo đảm ATTT, ANM; huy động, phát huy hiệu quả các nguồn lực; xây dựng môi trường văn hóa số an toàn có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung cho nhau. Thực hiện đồng bộ, thường xuyên và phù hợp với đặc điểm của từng cơ quan, đơn vị sẽ góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, phát huy trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, quần chúng, qua đó nâng cao chất lượng, hiệu quả bảo đảm ATTT, ANM, phục vụ tốt nhiệm vụ giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, chỉ huy, quản lý.
Tài liệu tham khảo
[1]. Bộ Quốc phòng, Thông tư quy định quản lý và bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng, số 107/2024/TT-BQ, ngày 30/11/2024, tr.2.
[2]. Viện ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, Nxb Hồng Đức, TP.HCM, 2021, tr.182.
[3]. V.I. Lê-nin toàn tập, tập 7, “Những lời phát biểu và tham luận trong quá trình thảo luận Điều lệ Đảng” (1902), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tr.352.
[4]. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 11, “Bài nói về tình hình và nhiệm vụ trước mắt của Quân đội tại Hội nghị cao cấp toàn quân” (1958), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.366.
[5]. Bộ Quốc phòng, Kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị số 57-CT/TW ngày 31/12/2025 của Ban Bí thư và Kế hoạch số 04-KH/BCĐTW ngày 05/01/2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu trong hệ thống chính trị thuộc phạm vi quản lý của BQP, số 1316/KH-BQP, ngày 04/3/2026, tr.3.
Tác giả: Trung tá Vũ Đức Long
Nguồn: Hệ 5/ HVCT